hotline đặt hàng: 0938221100

Bệnh viêm gan siêu vi C (Phần cuối)

21/01/2015  11:42

 IV.    ỨNG DỤNG CÁC THỬ NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NHIỄM SVC.

A.    Trong viêm gan cấp tính do siêu vi:

Trong viêm gan siêu vi cấp, dấu hiệu lâm sàng, chức năng gan không thể phân biệt được rành rọt là do loại siêu vi nào. Riêng với SVC không có một dấu ấn chắc chắn cho biết là nhiễm cấp  (sự hiện diện của HCV – RNA, sự có mặt của kháng thể đặc hiệu lớp IgM cũng không đủ) nên cần loại trừ các nguyên nhân viêm gan cấp do các siêu vi khác.

B.    Ở các đối tượng các viêm gan mãn tính:

      Có men ALT tăng cao, có nguy cơ cao và EIA 2/3 dương tính, sơ đồ thử nghiệm nên tiến hành như sau (dựa vào các số liệu nghiên cứu trong thực tế lâm sàng).

Ở nhóm bệnh nhân này do tỷ lệ PCR dương tính khi có EIA 2/3 dương tính rất cao (80 – 90%) nên trong hoàn cảnh không có điều kiện làm PCR có thể chẩn đoán xác định và sinh thiết để điều trị. Nếu có điều kiện thử nghiệm RT-PCR thì sẽ tốt hơn chính xác hơn. Trong trường hợp này không cần các thử nghiệm bổ sung.

C.    Ở các đối tượng cho máu, ALT bình thường, nguy cơ thấy có EIA 2/3 dương tính:

Trong trường hợp này có 2 trình tự có thể lựa chọn:

EIA 2/3 (+): bổ sung bằng thử nghiệm RIBA, thử nghiệm bổ sung này cho phép loại trừ 50 – 60% dương tính giả và chỉ thử PCR ở các đối tượng có RIBA dương tính hay không xác định. Hiện này trình tự này ít tốn kém hơn nên được nhiều tác giả ủng hộ.Cũng nên ghi nhận rằng có khoảng 10 – 20% đối tượng cho máu có RIBA (+) mà PCR (-) khi sinh thiết gan có dấu hiệu viêm gan mãn thậm chí có cả thể hoạt động.Điều này chứng tỏ chúng ta cần dè dặt với những trường hợp này và PCR (-) chưa hẳn đã loại trừ được nhiễm SVC.

EIA 2/3 dương tính thử ngay PCR nếu dương tính ta có chẩn đoán còn âm tính cũng cần theo dõi vì lý do như trên đã nêu.

D.    Đánh giá trước điều trị để lượng giá khả năng đáp ứng với điều trị:

     Chẩn đoán sự hiện diện của siêu vi trước lúc điều trị bằng kỹ thuật RT-PCR, nếu có điều kiện tiến hành định lượng. Định lượng ở đây có thể dùng cả 2 kỹ thuật PCR hay bDNA để định lượng vì chỉ đánh giá mức cao và không cao và nếu mức cao thì bDNA cũng xác định được, còn nếu bDNA âm tính sau khi đã có kết quả RT-PCR dương tính thì kết luận bệnh nhân thuộc nhóm có siêu vi ở mức thấp. Tiếp theo là định tuýp siêu vi có điều kiện. Lý do cần thử nghiệm định lượng và định tuýp là ngoài tiên đoán đáp ứng điều trị, theo các nghiên cứu gần đây cho thấy thời gian điều trị Interferon – α và Ribavirine là 6 tháng nếu SVC không phải tuýp I hoặc tuýp I nhưng số lượng ˂ 2x106 bản sao/ml. Còn nếu vừa là tuýp I lại có số lượng ˃ 2 x 106 bản sao/ml thì cần điều trị trong 12 tháng.

E.    Theo dõi đáp ứng điều trị:

Sau khi đã điều trị việc theo dõi dựa vào đáp ứng sinh hóa (men ALT), sinh thiết gan (đáp ứng mô học), và đáp ứng siêu vi: ở đây phải dùng kỹ thuật định tính RT-PCR có độ nhạy cao. Vấn đề định lượng tuýp siêu vi không có vai trò trong theo dõi đáp ứng.

Theo dõi sớm hơn bằng RT-PCR để tiên lượng đáp ứng siêu vi lâu dài. Trước đây thường kiểm tra sau 12 tuần nếu RT-PCR âm tính khả năng có đáp ứng lâu dài lớn.Hiện nay có các nghiên cứu cho thấy có thể tiên lượng đáp ứng sớm hơn vào tuần thứ 4.

Thực ra để đánh giá có đáp ứng siêu vi với điều trị thử nghiệm RT-PCR âm tính cũng chưa đảm bảo có đáp ứng hoàn toàn mà cần theo dõi nhiều lần mới chắc chắn. Thường nếu sau khi ngưng điều trị 6 tháng và 12 tháng mà RT-PCR vẫn âm tính ta có thể kết luận là đáp ứng lâu dài về siêu vi.

F.    Theo dõi tiến triễn ở nhóm bệnh nhân không điều trị:

Không cần thiết theo dõi bằng các thử nghiệm kháng thể cũng như các kỹ thuật SHPT cả định tính, định lượng và định tuýp vì không có ích lại tốn kém. Cần theo dõi về sinh hóa chức năng gan, huyết học, đông máu (khi cần thiết). Theo dõi bằng sinh thiết cho các chỉ dẫn chính xác và quan trọng nhất về độ trầm trọng của tổn thương gan song phần lớn bệnh nhân không chấp thuận.

V.    KẾT LUẬN.

HCV tác nhân gây bệnh cho người mới được phát hiện hơn 20 năm. Tiến bộ khoa học đã khám phá nhiều đặc điểm siêu vi, cấu tạo di truyền và đáp ứng miễn dịch, rồi từ đó phát hiện ra nhiều cách chẩn đoán nhiễm HCV. Những xét nghiệm này góp phần rất lớn trong việc tầm soát làm nền tảng cho những nghiên cứu về dịch tễ và lâm sàng. Diễn tiến bệnh cũng được xác định được nhiều yếu tố nguy cơ có liên quan, qua đó chúng ta có thể thiết kế những kế hoạch phòng chống nhiễm HCV. Hy vọng một ngày không xa, chúng ta sẽ có thuốc chủng ngừa VGSV C, giúp con người thoát khỏi nanh vuốt nguy hiểm của HCV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Viêm gan siêu vi C từ cấu trúc siêu vi đến điều trị. Các tác giả: ĐINH DẠ LÝ HƯƠNG – BÙI HỮU HOÀNG – VÕ THỊ MỸ DUNG – TRẦN THIỆN TUẤN HUY – TRÂN NGỌC BẢO Với sự cộng tác của : GS. PHẠM HOÀNG PHIỆT, NXB Y HỌC chi nhánh Tp.HCM 2000.

2.    Các loại bệnh viên gan siêu vi. Bác sĩ : NGUYỄN HỮU CHÍ, NXB Thanh Niên 2014.

3.    Negro F- Hepatitis C Virus Epidemiology, Pathogenesis, Diagnosis, and Nautural History – CCO Practice 2012 – clinicaloptions.com

4.    Ghany MG, Strader DB, Thomas DL, Seeff LB: American Association for the Stydy of Liver Diseases. Diagnosis, management, and treatment of hepatitis C: an update. Hepatology.2009;49:1335-1374


Hồng Thiện Mỹ Tổng hợp.

Hết.